22:12 IST Thứ ba, 25/06/2019

Danh Mục

Tra cứu thông tin

Đăng ký Qua SMS
Hệ thống Cầu, Tuyến sông thuộc TP. Hồ Chí Minh
Lịch Thủy triều TP. Hồ Chí Minh
Theo dõi hành trình tàu chạy qua hệ thống AIS

BCH Phòng chống lụt bão

Phòng chống lụt bão

Web liên kết

 

 

Thư viện ảnh

 

Trang chủ » Thông tin tổng hợp » Thông tin tổng hợp

Hướng dẫn chế độ hưu trí áp dụng từ 01/01/2018

Thứ năm - 14/09/2017 12:44
Hưu trí là tên gọi chỉ chung cho những người đã về hưu hoặc nghỉ hưu theo chế độ và được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội. Hưu trí thường là người già, người có thâm niên công tác nhất định (ngoại trừ một số trường hợp Nhà nước cho nghỉ mất sức vì thực hiện các công việc nặng nhọc, độc hại...). Theo quy định pháp luật ở Việt Nam thì độ tuổi để về hưu đối với nam là 60 tuổi, nữ là 55 tuổi. Nếu đạt độ tuổi này cộng với thời gian công tác và thời gian đóng bảo hiểm xã hội thì những người về hưu sẽ được hưởng một khoản tiền trợ cấp cho đến khi chết gọi là lương hưu. Mức hưởng thường là từ 60% đến 80% lương cơ bản hoặc lương được nhận (tùy ngành nghề).

Mức hưởng lương hưu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tuổi đời, thời gian đóng BHXH, mức lương đóng BHXH, điều kiện làm việc… tỷ lệ hưởng lương hưu sẽ thấp khi nghỉ hưu sớm và càng thấp hơn nếu thời gian đóng BHXH không nhiều. Vì vậy khi người lao động còn trẻ, khỏe, có công việc tốt thì nên tiếp tục đóng BHXH cho đến khi đủ tuổi nghỉ hưu để được nhận mức lương hưu tốt nhất giúp đảm bảo tốt hơn cuộc sống của mình khi về hưu.

Theo thông tin từ báo Vietnamnet ngày 28/7/2017, tại Hội nghị cung cấp thông tin BHXH, BHYT tháng 7/2017 được tổ chức mới đây, đại diện Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam cho biết căn cứ vào quy định Luật BHXH 2014, cách tính tỷ lệ % hưởng lương hưu sẽ thay đổi từ 01/01/2018. Theo đó, từ ngày 01/01/2018, tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc vẫn là tiền lương theo ngạch, bậc, cấp bậc quân hàm (hệ số) và các khoản phụ cấp chức vụ (hệ số), phụ cấp thâm niên vượt khung (%), phụ cấp thâm niên nghề (nếu có) (%) trên cơ sở mức mức lương cơ sở do Nhà nước quy định từng thời kỳ.

Cụ thể, từ 01/01/2018, lao động nữ nghỉ hưu khi đóng đủ 15 năm BHXH hưởng lương hưu bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH. Từ năm thứ 16 trở đi, mức hưởng BHXH tăng thêm 2%. Đóng đủ 30 năm được hưởng lương hưu tối đa 75% thay vì 25 năm như hiện nay.

Lao động nam hiện đóng 15 năm BHXH hưởng lương hưu 45% bình quân tiền lương tháng đóng BHXH. Tuy nhiên, từ 01/01/2018, để hưởng mức trên, lao động nam phải đóng đủ 16 năm. Theo đó, lao động nam nghỉ hưu trong năm 2018 đóng đủ 31 năm BHXH hưởng lương hưu tối đa 75% bình quân tiền lương tháng đóng BHXH. Nếu lao động nam nghỉ hưu từ năm 2019, 2020, 2021 và 2022 trở đi phải đóng tương ứng 32, 33, 34, 35 năm BHXH mới được hưởng 75%. Đến năm 2022 phải tham gia 20 năm BHXH mới được hưởng mức 45%.
Trường hợp người lao động đã đủ tuổi nghỉ hưu nhưng thiếu thời gian đóng bảo hiểm xã hội: với những trường hợp thiếu thời gian đóng BHXH dưới sáu tháng thì thông qua đơn vị sử dụng lao động đóng đủ thời gian còn thiếu cho người lao động. Trường hợp thời gian đóng còn thiếu quá sáu tháng thì người lao động có thể liên hệ cơ quan BHXH để tham gia BHXH tự nguyện.
 
1. Nghỉ hưu sớm bị trừ 2%/năm
Khi biết đến quy định mới này nhiều người lao động thắc mắc, liệu quy định này có làm giảm lương hưu hay không. Do không phải ai nghỉ hưu trước năm 2018 cũng đều có lợi so với người nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi, vì luật đã quy định từ năm 2018 trở đi tiền lương tính đóng BHXH bắt buộc bao gồm lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác theo quy định của pháp luật lao động. Như vậy, tiền lương đóng BHXH cao hơn nên lương hưu sẽ cao hơn chứ không thấp hơn và lương hưu phụ thuộc nhiều yếu tố như tỉ lệ hưởng, tiền lương đóng BHXH bình quân, thời điểm hưởng lương hưu, thời gian hưởng lương hưu nên không phải ai nghỉ hưu trước năm 2018 cũng đều có lợi hơn.
Trước thông tin này, nhiều lao động đang có ý định y khoa để đủ điều kiện nghỉ hưu trước năm 2018 nhằm né những quy định mới. Nhưng Luật BHXH đã quy định tăng dần tuổi nghỉ hưu trước tuổi do suy giảm khả năng lao động theo giám định y khoa: Nam đủ 51 tuổi, nữ đủ 46 tuổi (trước đây là nam 50 tuổi và nữ 45 tuổi) và bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên thì đủ điều kiện hưởng lương hưu. Sau đó thực hiện lộ trình tăng dần điều kiện về hưu trước tuổi cho đến năm 2020 trở đi, nam đủ 55 tuổi và nữ đủ 50 tuổi thì mới đủ điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên.

Từ năm 2018 có sự thay đổi về cách tính tỉ lệ phần trăm lương hưu đối với cả nam và nữ nếu về hưu trước tuổi. Nếu người lao động nghỉ hưu sớm trước năm 2018 để 15 năm đầu đóng BHXH được tính hưởng 45% thì cũng cần lưu ý Luật cũng có quy định là nghỉ hưu sớm mỗi năm sẽ bị trừ tương ứng 2% (trước năm 2016 tỉ lệ giảm trừ chỉ là 1%). Trong khi đó, nếu tiếp tục đóng BHXH thêm một năm thì tỉ lệ lương hưu cũng tăng tương ứng 2%.

2. Xác định ngày, tháng sinh khi chỉ biết năm sinh
Tại điểm h, mục 5, phần II Thông tư số 01/2008/TT-BTP ngày 02 tháng 6 năm 2008 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thực hiện một số quy định của Nghị định số 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính Phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch quy định:
Trong trường hợp Giấy khai sinh của một người chỉ ghi năm sinh, không ghi ngày, tháng sinh, mà có yêu cầu bổ sung, thì ngày, tháng sinh được ghi theo Giấy chứng sinh; nếu không có Giấy chứng sinh, thì ngày, tháng sinh được xác định như sau:

- Đối với người chưa có hồ sơ, giấy tờ cá nhân ghi về ngày, tháng sinh, thì ngày, tháng sinh được xác định theo văn bản cam đoan của cha, mẹ đẻ hoặc người giám hộ (đối với trẻ em dưới 6 tuổi); hoặc theo lời khai của người yêu cầu bổ sung, có xác nhận của người làm chứng (đối với người từ đủ 6 tuổi trở lên).
- Đối với những người đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân như: Sổ hộ khẩu, Chứng minh nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên mà trong các hồ sơ, giấy tờ đã ghi thống nhất về ngày, tháng sinh, thì xác định theo ngày, tháng sinh đó. Trường hợp ngày, tháng sinh ghi trong các hồ sơ, giấy tờ nói trên của người đó không thống nhất, thì xác định theo ngày, tháng sinh trong hồ sơ, giấy tờ được lập đầu tiên.
- Trong trường hợp không xác định được ngày, tháng sinh theo hướng dẫn trên đây, thì ngày, tháng sinh là ngày 01 tháng 01.

3. Thời điểm hưởng lương hưu
Theo Khoản 1 Điều 18 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH: “Thời điểm đủ điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu là ngày 01 tháng liền kề sau tháng sinh của năm mà người lao động đủ điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu. Trường hợp tháng sinh là tháng 12 thì thời điển đủ điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu là ngày 01 của tháng 01 năm liền kề sau năm mà người lao động đủ điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu”.
Ví dụ:
- Ông A sinh ngày 01/3/1956, làm việc trong điều kiện bình thường. Theo quy định trên, thời điểm Ông A đủ điều kiện về tuổi để hưởng lương hưu là ngày 01/4/2016.
- Ông M sinh ngày 01/12/1956, làm việc trong điều kiện bình thường. Theo quy định trên, thời điểm Ông M đủ điều kiện về tuổi để hưởng lương hưu là ngày 01/01/2017.
 
4. Xác định thời điểm hưởng lương hưu khi giấy tờ chỉ ghi năm sinh
Theo Khoản 2 Điều 18 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH: Thời điểm đủ điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu đối với trường hợp không xác định được ngày sinh, tháng sinh (chỉ ghi năm sinh) là ngày 01 tháng 01 của năm liền kề sau năm người lao động đủ điều kiện về tuổi đời hưởng lương hưu” .
Ví dụ: Ông C làm việc trong điều kiện bình thường, trong hồ sơ chỉ ghi sinh năm 1958. Theo quy định trên, thời điểm Ông C đủ điều kiện về tuổi để hưởng lương hưu là ngày 01/01/2019.

5. Cách tính lương hưu
5.1. Căn cứ vào Điều 54 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 quy định về Điều kiện hưởng lương hưu thì CBVC làm việc trong điều kiện bình thường khi về hưu (nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi) được hưởng lương hưu nếu có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên. Luật không quy định là công tác ở đâu (Cảng vụ hay đơn vị khác) miễn có đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 20 năm trở lên là được.

5.2. Căn cứ vào Điều 56 Luật Bảo Hiểm xã hội năm 2014 quy định về Mức lương hưu hằng tháng đối với CBVC đủ điều kiện hưởng lương hưu khi về hưu (theo quy định tại điều 54 của Luật BHXH 2014) thì có 02 giai đoạn để tính mức lương hưu:
- Giai đoạn 1: Từ nay đến trước ngày 01 tháng 01 năm 2018, khi CBVC về hưu thì mức lương hưu hằng tháng được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH (theo quy định tại Điều 62 của Luật BHXH) nếu có 15 năm đóng bảo hiểm xã hội; sau đó cứ thêm mỗi năm thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; nhưng tổng mức lương hưu tối đa dược hưởng là 75%.
Ví dụ: Tháng 7/2017 có 01 nam CBVC đơn vị về hưu đúng theo quy định (đủ 60 tuổi) trong đó CBVC này có 18 năm đóng BHXH (8 năm ở cảng vụ và 10 năm ở đơn vị khác) thì mức lương hưu hằng tháng mà CBVC này được hưởng là:
+ 15 năm đầu đóng BHXH là: 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH;
+ 03 năm còn lại (của 18 năm đóng BHXH) là: 03 x 2% = 6% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.
Vậy tổng mức lương hưu CBVC được hưởng hằng tháng là: 45% + 6% = 51% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.
- Giai đoạn 2: Từ sau ngày 01 tháng 01 năm 2018, khi CBVC về hưu thì mức lương hưu hằng tháng được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH (theo quy định tại Điều 62 của Luật BHXH) nếu có số năm đóng bảo hiểm xã hội ít nhất như sau:
+ Đối với CBVC nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm;
+ Đối với CBVC nữ nghỉ hưu từ năm 2018 trở đi là 15 năm.
 Ngoài ra sau đó cứ thêm mỗi năm, người lao động quy định tại Điểm a và Điểm b khoản này được tính thêm 2%; mức tối đa bằng 75%.
Ví dụ: Tháng 7/2019 có 01 nam CBVC đơn vị về hưu đúng theo quy định (đủ 60 tuổi) trong đó CBVC này có 32 năm đóng BHXH (8 năm ở cảng vụ và 24 năm ở đơn vị khác) thì mức lương hưu hằng tháng mà CBVC này được hưởng là:
* 16 năm đầu đóng BHXH là: 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH;
* 16 năm còn lại (của 32 năm đóng BHXH) là: 16 x 2% = 32% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.
Vậy tổng mức lương hưu CBVC được hưởng hằng tháng là: 45% + 32% = 77% Nhưng thực tế thì CBVC chỉ được hưởng là 75% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH (vì theo quy định không cho phép hưởng quá 75%  mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH).
- Ngoài ra, đối với CBVC về hưu sớm do suy giảm khả năng lao động (theo quy định tại Điều 55 của Luật BHXH) thì mức lương hưu hằng tháng cũng được tính tương tự như trên, tuy nhiên sau đó cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 2%.
Ví dụ: Theo quy định thì đến tháng 7/2019 nam CBVC A mới về hưu đúng theo quy định (đủ 60 tuổi). Tuy nhiên do suy giảm khả năng lao động nên A về hưu sớm vào tháng 7/2017 (trước 02 năm so với quy định); tính đến tháng 7/2017 thì CBVC A có 32 năm tham gia đóng BHXH thì mức lương hưu hằng tháng mà CBVC A được hưởng là:
+ 32 năm đóng BHXH là: 75% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH;
+ 02 năm về hưu trước tuổi quy định là: 02 x 2% = 4%
Vậy tổng mức lương hưu CBVC A được hưởng hằng tháng là: 75% - 4% = 71% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.

5.3. Đối với các trường hợp CBVC nghỉ việc mà không tiếp tục tham gia BHXH nữa đồng thời cũng chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu thì căn cứ vào Điều 60 Luật Bảo Hiểm xã hội năm 2014 quy định về BHXH một lần thì CBVC ngoài việc được hưởng trợ cấp thội việc theo quy định (đối với cá CBVC công tác trước ngày 01/01/2009) thì sẽ còn được hưởng chế độ BHXH 01 lần với mức hưởng cụ thể như sau:
- Đối với những năm đóng BHXH trước năm 2014 thì cứ mỗi năm được tính là 1,5 tháng của mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH;
- Còn những năm đóng sau năm 2014 thì được tính là 02 tháng của mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.
Ví dụ: CBVC A công tác tại đơn vị từ 07/2007 đến nay. Tuy nhiên do công việc gia đình nên A xin và được lãnh đạo đơn vị cho nghỉ việc vào tháng 7/2017; tính đến tháng 7/2017 thì CBVC A có 10 năm tham gia đóng BHXH và A cũng không có nguyện vọng tiếp tục tham gia BHXH nữa thì CBVC A được hưởng chế độ BHXH 01 lần gồm:
+ 07 năm đóng BHXH (từ 07/2007 - 01/2014) là: 07 x 1,5tháng = 10,5 tháng của mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH;
+ 03 năm còn lại (từ 07/2014 - 01/2017) là: 03 x 2 tháng = 6 tháng của mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH. 
Vậy tổng tháng lương mà CBVC A được hưởng là: 10,5 + 6 = 16,5 tháng của mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.

Tác giả bài viết: Phòng Tổ chức hành chính

Nguồn tin: (Bài viết được trích từ các báo điện tử: Vietnamnet, Pháp luật, Thanh niên, Người lao động, Tuổi trẻ, VNExpress)

Tổng số điểm của bài viết là: 9 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Thông tin khác

 
Bác Hồ
Văn bản QPPL

Văn bản Nghiệp vụ

 

Cảng, bến thủy nội địa
...................................................................
Người lái phương tiện
...................................................................
Vận tải đường thủy nội địa
...................................................................
+ Đào tạo cấp bằng CCCM
...................................................................
+ Phương tiện thủy nội địa
...................................................................
+ Hàng hải
...................................................................
+ Thu nộp phí, lệ phí
...................................................................
+ Điều tiết, đảm bảo giao thông thủy
...................................................................
Quản lý hạ tầng giao thông đường thủy nội địa

 

Tiêu chuẩn quản lý chất lượng

Tiêu chuẩn ISO 9001:2008

Thống kê truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 0


Hôm nayHôm nay : 3142

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 72581

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 4225616

Đăng nhập thành viên